1. Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa quốc tế của Ngày Thế giới hòa bình
Ngày 21/9 hằng năm được Liên hợp quốc chọn là Ngày Quốc tế Hòa bình (International Day of Peace), bắt đầu từ năm 1981 và chính thức được tổ chức rộng rãi trên thế giới từ năm 1982. Đây không chỉ là một ngày kỷ niệm đơn thuần, mà là lời nhắc nhở toàn thể nhân loại về khát vọng chung lớn nhất: sống trong một thế giới hòa bình, không tiếng súng, không hận thù, không máu đổ, đau thương. Đó là giá trị nền tảng, thiêng liêng mà mọi quốc gia, dân tộc đều hướng tới, ra sức đắp xây, gìn giữ và bảo vệ giá trị chân chính của hòa bình.
Bản chất của Ngày Thế giới hòa bình là lời kêu gọi nhân loại loại từ bỏ chiến tranh, kiên quyết ngăn chặn xung đột, giải quyết mọi mâu thuẫn, bất đồng bằng đối thoại, hợp tác trên cơ sở luật pháp quốc tế và chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo. Liên hợp quốc đã và đang kêu gọi các quốc gia, dân tộc tạm ngừng bạo lực trong ngày này để tạo cơ hội cứu trợ nhân đạo, bảo vệ thường dân và thúc đẩy các chương trình phát triển bền vững, “không để ai ở lại phía sau” như phương châm hành động của Việt Nam.
Ý nghĩa quốc tế của sự kiện ngày càng lớn lao trong bối cảnh thế giới đầy biến động phức tạp hiện nay. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), chi tiêu quân sự toàn cầu năm 2024 đã đạt hơn 2.400 tỷ USD, mức cao kỷ lục trong lịch sử, cho thấy xu hướng chạy đua vũ trang vẫn gia tăng, mà lẽ ra, số tiền to lớn ấy phải được dùng vào các hoạt động nhân đạo, nhất là hoạt động giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và gìn giữ hòa bình thì tốt biết bao. Cùng lúc, những điểm nóng xung đột từ Trung Đông, Ukraine, châu Phi đến Biển Đông vẫn chưa có dấu hiệu lắng dịu, có nơi còn diễn ra gay gắt và phức tạp hơn. Ngày Thế giới hòa bình thật thiêng liêng, nó không chỉ là khẩu hiệu chỉ đạo hành động, mà là mệnh lệnh của thời đại, phản ánh nhu cầu cấp bách của nhân loại: bảo vệ sự sống, quyền con người và tương lai bền vững; không được chiến tranh xảy ra; không được để thế hệ con cháu tiếp tục đổ máu, hy sinh vì chiến tranh, xung đột vũ trang vô nghĩa.
Đối với Việt Nam, đất nước tươi đẹp này đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc đầy máu lửa. Vì lẽ đó, ngày này càng mang ý nghĩa đặc biệt đối với việc thức tỉnh lương tri con người. Nó khẳng định sự đồng điệu giữa khát vọng của dân tộc Việt Nam và khát vọng chung của loài người: hòa bình là giá trị vô giá, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững và hạnh phúc vẹn toàn.
2. Việt Nam cực lực phản đối chiến tranh; tiếp tục nhận diện âm mưu, thủ đoạn mới gây ra chiến tranh và yêu cầu bảo vệ vững chắc nền hòa bình
Hơn bất kỳ quốc gia – dân tộc nào, Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình và ý nghĩa xương máu của các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào của mình đã hy sinh vì nước, vì dân. Trong thế kỷ XX, nhân dân ta đã hai lần đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đã hy sinh hơn 3 triệu người con ưu tú với hơn 3.000 nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước; đã chịu tổn thất nặng nề về cơ sở hạ tầng, môi trường và cả sự phát triển bị kìm hãm nhiều thập kỷ, sự hao mòn, tổn thương các giá trị văn hóa. Không có gì quý hơn hòa bình – không có gì quý hơn độc lập, tự do, lời khẳng định bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – chính là sự kết tinh từ thực tiễn xương máu ấy – bài học rút ra từ hơn bốn nghìn năm đánh giặc giữ nước của dân tộc.
Ngày nay, hòa bình ở Việt Nam và thế giới vẫn đứng trước nhiều thách thức. Các thế lực hiếu chiến không từ bỏ tham vọng bá quyền, áp đặt trật tự thế giới mới có lợi cho họ bằng vũ lực và bằng “cây gậy và củ cà rốt”. Bên cạnh đó, chiến tranh hiện đại không chỉ diễn ra bằng bom đạn, mà còn bằng những hình thức tinh vi hơn: “diễn biến hòa bình”, “cách mạng màu”, chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin”, ví như chiêu trò lợi dụng cuộc bạo loạn do giới trẻ Gen Z ở Nê-pan vừa qua để kích động giới trẻ Việt Nam “noi gương”, tổ chức biểu tình, gây bạo loạn, đòi các quyền lợi phi thực tế. Đây là thủ đoạn thâm độc, đặc biệt nguy hiểm mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên áp dụng đối với Việt Nam nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm suy yếu niềm tin của nhân dân, nhất là giới trẻ 2X vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, từ đó tiến tới lật đổ chế độ, phá bỏ thành quả của cách mạng Việt Nam.
Đáng lo ngại hơn, chạy đua vũ trang và tranh chấp chủ quyền biển, đảo có thể đẩy khu vực Đông Nam Á, trong đó có Biển Đông, trở thành điểm “nóng xung đột”. Các cường quốc không ngừng gia tăng hiện diện quân sự, thử nghiệm vũ khí công nghệ cao, trong khi luật pháp quốc tế đôi khi bị xem nhẹ, coi thường. Việt Nam, với vị trí địa – chính trị đặc biệt, luôn là mục tiêu mà các thế lực thù địch tìm cách lợi dụng với mưu đồ lái nước ta đi theo con đường của họ, có lợi cho họ.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị vô giá của hòa bình hiện có. Mỗi người dân Việt Nam yêu nước cần hiểu rằng: hòa bình không phải là điều hiển nhiên, mà phải được giữ gìn và bảo vệ từng ngày. Đất nước chỉ có thể phát triển bền vững, bước vào kỷ nguyên phát triển mới nếu bảo vệ được hòa bình, ổn định chính trị – xã hội. Do đó, Việt Nam kiên định quan điểm: “không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực trong quan hệ quốc tế”, đồng thời luôn chủ động củng cố tiềm lực quốc phòng, hiện đại hóa quân đội, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.
Từ kinh nghiệm lịch sử, nhân dân Việt Nam càng ý thức sâu sắc rằng, chỉ có làm hết sức mình mới đảm bảo cho con cháu mai sau không phải gánh chịu những đau thương, tang tóc của một cuộc chiến tranh mới. Hòa bình là để phát triển, nhưng hòa bình cũng chỉ bền vững khi được bảo vệ bằng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc; dứt khoát Việt Nam không đánh đổi chủ quyền lãnh thổ để lấy thứ hào bình viễn vông.
3. Quan điểm, thái độ chống chiến tranh của nhân dân Việt Nam và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong bảo vệ hòa bình
Việt Nam đã, đang và sẽ nhất quán khẳng định: chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta là hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển; kiên quyết phản đối mọi cuộc chiến tranh xâm lược đối với Việt Nam. Trên trường quốc tế, Việt Nam luôn tham gia tích cực vào các cơ chế gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Tính đến năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 800 lượt cán bộ, sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi… để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đây là minh chứng rõ ràng cho cam kết của Việt Nam trong gìn giữ hòa bình nhân loại.
Trong nước, trách nhiệm bảo vệ hòa bình thuộc về toàn Đảng, toàn dân, nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt. Quân đội phải không ngừng nâng cao năng lực tác chiến, trình độ khoa học – công nghệ quân sự, khả năng phòng thủ không gian mạng, tác chiến điện tử, sẵn sàng ứng phó từ sớm, từ xa trước mọi âm mưu chiến tranh (nếu nó xảy ra). Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải kiên định lý tưởng, giữ vững bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Hòa bình chỉ bền vững khi gắn liền với công lý và sức mạnh tự lực, tự cường của dân tộc. Việt Nam kêu gọi các quốc gia, dân tộc trên thế giới cùng chung tay chống lại xu thế chạy đua vũ trang, giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế, vì một thế giới không còn bóng đen chiến tranh, xung đột vũ trang. Còn đối với chúng ta, trách nhiệm lớn nhất là giữ vững Tổ quốc từ sớm, từ xa; để mỗi người dân được sống trong hòa bình, con cháu được trưởng thành trong độc lập, thịnh vượng. Đó vừa là nghĩa vụ thiêng liêng, vừa là lời cam kết vĩnh hằng của Việt Nam trước nhân loại trong Ngày Thế giới hòa bình.
Hòa bình là khát vọng ngàn đời, là điều kiện sống còn của mọi dân tộc. Hòa bình là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại, là dòng sông mát lành nuôi dưỡng sự sống và phát triển. Đối với nhân dân Việt Nam – một dân tộc đã từng trải qua biển máu, hòa bình càng là báu vật thiêng liêng, quý giá nhất, rất đáng trân trọng, gìn giữ. Nhân Ngày Thế giới hòa bình, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam kiên quyết nói không với chiến tranh, tiếp tục dựng “lá chắn Tổ quốc” vững chắc từ sớm, từ xa; đồng thời, chung tay cùng nhân cả nước và nhân loại tiến bộ làm hết sức mình để gìn giữ ngọn đuốc hòa bình với hy vọng các thế hệ con cháu mai sau được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc./.
DƯƠNG PHƯƠNG DUY









